← Về thư mục
Giai đoạn 2A: Đánh giá tính khả thi của việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động tại Việt Nam
Bảng chú giải thuật ngữ viết tắt song ngữ
- LMIS (Labour Market Information System — Hệ thống Thông tin Thị trường Lao động)
- BHXH (Social Insurance — Bảo hiểm Xã hội)
- VHLSS (Vietnam Household Living Standards Survey — Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam)
- ILO (International Labour Organization — Tổ chức Lao động Quốc tế)
- UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization — Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc)
- WB (World Bank — Ngân hàng Thế giới)
- GSO (General Statistics Office — Tổng cục Thống kê Việt Nam)
- MoLISA (Ministry of Labour, Invalids and Social Affairs — Bộ Lao động Thương binh và Xã hội)
- GDĐT (Education and Training — Giáo dục và Đào tạo)
- FDI (Foreign Direct Investment — Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
- ESG (Environmental, Social, and Governance — Môi trường, Xã hội, và Quản trị doanh nghiệp)
- ASEAN (Association of Southeast Asian Nations — Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
1. Tóm tắt điều hành
- Báo cáo đánh giá tính khả thi của việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động tại Việt Nam trong bối cảnh thực thi Thông tư số 34 năm 2026.
- Với khoảng 63,1 phần trăm lực lượng lao động thuộc khu vực phi chính thức (theo báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam công bố ngày 5 tháng 1 năm 2026), các phương pháp tiếp cận truyền thống gặp rào cản rất lớn về thu thập dữ liệu hành chính.
- Nghiên cứu đề xuất một thang đo khả thi từ cấp độ một đến cấp độ ba nhằm tích hợp các chỉ số gián tiếp từ bảo hiểm xã hội và dữ liệu tuyển dụng trực tuyến.
- Báo cáo cũng tiến hành so sánh bốn cơ chế dự báo nhu cầu kỹ năng tương lai dưới các ràng buộc thể chế và thông tin đặc thù của Việt Nam.
- Kết quả đánh giá cho thấy mô hình mở rộng dựa trên thí điểm theo kinh nghiệm của Hàn Quốc và Singapore là phương án tối ưu nhất.
- Tuy nhiên cơ chế này đòi hỏi chi phí thể chế cao do các ràng buộc pháp lý về tự chủ tuyển sinh và tự chủ tài chính của các trường.
- Phân tích định lượng cũng chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các tiêu chí năng lực nội tại và chỉ số thị trường trong Thông tư số 34.
- Khoảng trống này đe dọa trực tiếp đến mục tiêu phát triển các ngành công nghệ cao mũi nhọn như bán dẫn và trí tuệ nhân tạo.
- Đồng thời, sự xuất hiện của các yêu cầu kinh tế xanh đặt ra thách thức về việc cập nhật danh mục ngành nghề đào tạo quốc gia.
- Tài liệu định hình bộ câu hỏi nghiên cứu thực địa nhằm chuẩn bị cho việc thiết kế các khuyến nghị sửa đổi chính sách ở giai đoạn tiếp theo.
2. Rào cản cấu trúc: tại sao trên 63,1 phần trăm lao động phi chính thức làm hệ thống thông tin thị trường lao động khó áp dụng
Phương pháp luận của Tổ chức Lao động Quốc tế về hệ thống thông tin thị trường lao động dựa trên giả định cốt lõi rằng phần lớn lực lượng lao động hoạt động trong khu vực chính thức. Đây là nơi có hợp đồng lao động bằng văn bản, có kê khai thuế thu nhập cá nhân định kỳ, có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và có các cuộc khảo sát doanh nghiệp định kỳ để thu thập thông tin về bảng lương cùng nhu cầu tuyển dụng.
Tuy nhiên, giả định này hoàn toàn không phù hợp với thực tế của lao động phi chính thức. Hoạt động kinh tế của nhóm đối tượng này không được ghi nhận qua các kênh hành chính thông thường, họ không có hợp đồng lao động rõ ràng, thu nhập không được báo cáo thuế và họ cũng nằm ngoài danh sách khảo sát doanh nghiệp của cơ quan thống kê quốc gia.
Để giải quyết thách thức này, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã áp dụng các giải pháp khác nhau:
- Philippines (khoảng 78 phần trăm lao động phi chính thức):
- Tích hợp các phần khảo sát lao động phi chính thức chuyên biệt trực tiếp vào cuộc Khảo sát Lực lượng Lao động thường niên.
- Kết hợp với dữ liệu hành chính cấp cơ sở để ước tính quy mô và nhu cầu kỹ năng của nhóm này.
- Indonesia (khoảng 60 phần trăm lao động phi chính thức):
- Áp dụng chương trình Thẻ hỗ trợ việc làm kỹ thuật số Kartu Prakerja.
- Kết hợp đào tạo kỹ năng trực tuyến với hỗ trợ tài chính trực tiếp để khuyến khích lao động phi chính thức đăng ký thông tin cá nhân và nhu cầu học tập.
- Tạo lập một cơ sở dữ liệu lớn với hơn 18,9 triệu người thụ hưởng thuộc 514 quận huyện tính đến cuối năm 2024.
- Myanmar:
- Dựa chủ yếu vào các cuộc khảo sát mẫu hộ gia đình quy mô lớn.
- Kết hợp với các nghiên cứu định tính tại thực địa do các tổ chức quốc tế tài trợ để bù đắp khoảng trống dữ liệu hành chính.
Tại Việt Nam, hạ tầng dữ liệu hiện tại bao gồm:
- Hệ thống thông tin thị trường lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội:
- Độ phủ dưới 5 phần trăm.
- Chủ yếu chỉ thu thập thông tin từ một số ít doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài.
- Dữ liệu Bảo hiểm xã hội:
- Cả nước chỉ bao phủ khoảng 45,1 phần trăm lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chiếm khoảng 38,6 phần trăm (theo công bố chính thức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2025), bỏ qua hoàn toàn khoảng 63,1 phần trăm lao động phi chính thức.
- Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS):
- Là công cụ khảo sát mẫu hộ gia đình tốt nhưng có độ trễ lớn và không được thiết kế chuyên biệt để theo dõi sự chuyển dịch chi tiết của các kỹ năng nghề nghiệp.
Khoảng trống thực tế: Sự thiếu hụt hoàn toàn một cơ sở dữ liệu định danh liên thông có thể theo dõi hành trình của sinh viên từ lúc tốt nghiệp đại học đến khi gia nhập thị trường lao động phi chính thức.
3. Ma trận chỉ số gián tiếp phía cầu khả thi cho Việt Nam (Cấp độ một đến cấp độ ba)
Nhằm khắc phục khoảng trống dữ liệu, Việt Nam có thể áp dụng thang khả thi từ cấp độ một đến cấp độ ba để tích hợp các chỉ số gián tiếp về nhu cầu thị trường:
Cấp độ một (Triển khai trong vòng một năm, sử dụng dữ liệu sẵn có)
- Nội dung: Kiểm chứng chéo với dữ liệu Bảo hiểm xã hội và tự động thu thập dữ liệu tuyển dụng trực tuyến.
- Độ phủ thực tế: Khoảng 45,1 phần trăm lực lượng lao động chính thức thông qua Bảo hiểm xã hội (trong đó tỷ lệ bảo hiểm bắt buộc chiếm 38,6 phần trăm) và phần lớn các vị trí việc làm văn phòng chuyên môn trên các trang tuyển dụng lớn.
- Rủi ro: Bỏ sót toàn bộ khu vực lao động tự do hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ không tham gia bảo hiểm xã hội. Dữ liệu tuyển dụng trực tuyến thường bị thiên lệch về các ngành công nghệ và dịch vụ tại đô thị.
- Điều kiện tiên quyết: Ký kết quy chế chia sẻ dữ liệu định danh mã hóa giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đồng thời xây dựng công cụ thu thập tự động dữ liệu từ các trang tuyển dụng trực tuyến.
Cấp độ hai (Triển khai trong hai đến ba năm, cần xây dựng thêm công cụ)
- Nội dung: Khảo sát cựu sinh viên có cơ chế kiểm chứng độc lập.
- Độ phủ thực tế: Tiếp cận được khoảng 60 đến 70 phần trăm sinh viên tốt nghiệp sau 12 tháng thông qua cơ chế bắt buộc các trường đại học thực hiện khảo sát.
- Rủi ro: Các trường đại học có động cơ thổi phồng số liệu để bảo vệ chỉ tiêu tuyển sinh nếu không có quy trình giám sát độc lập chặt chẽ.
- Điều kiện tiên quyết: Ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất về khảo sát việc làm, thiết lập một đơn vị kiểm toán dữ liệu độc lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc thuê các tổ chức khảo sát chuyên nghiệp bên ngoài để xác minh ngẫu nhiên tối thiểu 10 phần trăm mẫu báo cáo của mỗi trường.
Cấp độ ba (Triển khai trên ba năm, yêu cầu phối hợp liên bộ)
- Nội dung: Theo dõi thuế thu nhập cá nhân theo ngành và tiến hành khảo sát người sử dụng lao động theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế.
- Độ phủ thực tế: Khoảng 15 đến 20 phần trăm lực lượng lao động đối với dữ liệu thuế thu nhập cá nhân và bao phủ các doanh nghiệp chính thức đại diện cho các ngành kinh tế trọng điểm đối với khảo sát người sử dụng lao động.
- Rủi ro: Chi phí triển khai khảo sát định kỳ rất lớn, thủ tục phối hợp liên bộ giữa Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo cực kỳ phức tạp và dễ bị đình trệ do xung đột thẩm quyền.
- Điều kiện tiên quyết: Quyết định của Chính phủ quy định về việc chia sẻ dữ liệu thuế hành chính phục vụ phân tích chính sách giáo dục, đồng thời thành lập Hội đồng Kỹ năng Quốc gia để chủ trì các cuộc khảo sát nhu cầu người sử dụng lao động theo chu kỳ thường niên.
4. Đánh giá bốn cơ chế dự báo nhu cầu tương lai theo các ràng buộc tại Việt Nam
Việc lựa chọn cơ chế dự báo nhu cầu tương lai phải đối mặt với ba ràng buộc đặc thù của Việt Nam bao gồm hệ thống thông tin thị trường lao động hạn chế, tỷ lệ lao động phi chính thức khoảng 63,1 phần trăm (theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2025) và năng lực phối hợp liên bộ còn yếu.
Phương pháp dự báo kỹ năng của Tổ chức Lao động Quốc tế
- Chi phí thể chế: Mức cao (tương đương cấp độ bốn trên thang khả thi) do yêu cầu thiết lập các ban kỹ năng chuyên ngành và mạng lưới chuyên gia sâu rộng để đánh giá xu hướng.
- Thời gian triển khai: Từ 3 đến 5 năm để xây dựng và vận hành ổn định.
- Rủi ro chính: Dữ liệu đầu vào không đủ chất lượng làm sai lệch các dự báo dài hạn, đồng thời sự thiếu hợp tác của các hiệp hội doanh nghiệp khiến kết quả mang tính lý thuyết suông.
Hoạch định kịch bản của UNESCO
- Chi phí thể chế: Mức trung bình (tương đương cấp độ ba trên thang khả thi) chủ yếu tập trung vào việc tổ chức các hội thảo chuyên gia và xây dựng mô hình giả định.
- Thời gian triển khai: Khoảng 2 năm để hoàn thiện khâu kịch bản quốc gia.
- Rủi ro chính: Các kịch bản có xu hướng quá vĩ mô và thiếu tính định lượng cụ thể để áp dụng trực tiếp vào công thức tính chỉ tiêu tuyển sinh cho từng ngành học.
Cơ chế điều chỉnh chỉ tiêu cuốn chiếu của Ngân hàng Thế giới
- Chi phí thể chế: Mức cao (tương đương cấp độ bốn trên thang khả thi) đòi hỏi hạ tầng dữ liệu thời gian thực và sự phản ứng nhanh từ phía cơ quan quản lý nhà nước để điều chỉnh chỉ tiêu theo từng học kỳ.
- Thời gian triển khai: Trên 3 năm để tích hợp công nghệ và thay đổi quy trình hành chính.
- Rủi ro chính: Gây xáo trộn nghiêm trọng cho kế hoạch tài chính và nhân sự của các trường đại học khi chỉ tiêu liên tục bị điều chỉnh trong ngắn hạn.
Cơ chế mở rộng dựa trên thí điểm theo kinh nghiệm của Hàn Quốc và Singapore
- Chi phí thể chế: Mức cao (tương đương cấp độ bốn trên thang khả thi). Bộ Giáo dục và Đào tạo không thể tự ý áp đặt chỉ tiêu thí điểm hoặc lựa chọn ưu tiên các trường đại học một cách chủ quan do vấp phải quy định về quyền tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đại học theo Luật Giáo dục Đại học số 34 năm 2018 (Điều 34 Khoản 1 Điểm b). Đồng thời, các trường đại học tự chủ tài chính theo Nghị định số 60 năm 2021 của Chính phủ không có động lực tài chính để mở rộng thí điểm các ngành công nghệ cao vốn đòi hỏi chi phí đầu tư phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên rất lớn, trừ khi Nhà nước thành lập được các gói tài trợ đặc thù quy mô lớn (như chương trình PRIME của Hàn Quốc với ngân sách 1,8 tỷ đô la Mỹ). Do đó, cơ chế này đòi hỏi sự phối hợp phê duyệt cơ chế đặc thù từ Chính phủ và hỗ trợ ngân sách từ Bộ Tài chính.
- Thời gian triển khai: Từ 1 đến 2 năm để hoàn thiện khung pháp lý thí điểm và phê duyệt ngân sách mồi.
- Rủi ro chính: Vi phạm quyền tự chủ hợp pháp của các trường đại học gây ra xung đột pháp lý lớn, đồng thời thiếu hụt nguồn kinh phí mồi khiến cơ chế thí điểm chỉ tồn tại trên giấy tờ.
Kết luận: Cơ chế mở rộng dựa trên thí điểm vẫn là phương án có khả năng mang lại hiệu quả thực chất nhất cho Việt Nam nhưng đòi hỏi chi phí thể chế cao và sự đồng thuận liên bộ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính để trình Chính phủ ban hành một Nghị quyết chuyên đề hoặc Quyết định của Thủ tướng nhằm thiết lập khung thí điểm vượt trần chỉ tiêu cho một số ngành ưu tiên quốc gia (bán dẫn, trí tuệ nhân tạo), kèm theo cơ chế cấp vốn mồi từ ngân sách nhà nước cho các đại học trọng điểm và nới lỏng tạm thời tiêu chí giảng viên cơ hữu khi có sự hợp tác đào tạo trực tiếp từ doanh nghiệp hàng đầu.
5. Định lượng yếu tố cung so với yếu tố cầu trong Thông tư số 34
Trong sáu điều kiện đóng băng chỉ tiêu tuyển sinh quy định tại Điều 5 Khoản 6 của Thông tư số 34 có đến năm tiêu chí thuộc về phía cung, bao gồm việc vượt số lượng tuyển sinh cho phép năm trước, không đạt tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, không đạt tỷ lệ tiến sĩ hoặc diện tích đất trên người học, tỷ lệ thôi học năm đầu cao và chưa được kiểm định chất lượng hoặc kiểm định hết hiệu lực. Chỉ có duy nhất một tiêu chí thuộc về phía cầu là tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm dưới 70 phần trăm.
Trên thực tế, trọng số hiệu lực của tiêu chí tỷ lệ việc làm 70 phần trăm là rất thấp do dữ liệu hoàn toàn dựa trên việc tự khảo sát và báo cáo của các trường đại học mà không có cơ chế đối chiếu với bảo hiểm xã hội hay thuế thu nhập cá nhân. Ước tính có chưa đến 1 phần pct số trường đại học bị đóng băng chỉ tiêu thực tế vì tiêu chí này trong chu kỳ tuyển sinh năm 2026 (đây là giả định cần kiểm chứng thông qua việc tiếp cận báo cáo thanh tra chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Các trường thường báo cáo tỷ lệ việc làm từ 80 đến trên 95 phần trăm để vượt qua ngưỡng chế tài một cách an toàn.
So sánh với Thông tư số 03 năm 2022, tỷ lệ việc làm khi đó được đặt ở mức 80 phần trăm làm điều kiện đóng băng, kết hợp với tiêu chí tỷ lệ thực tuyển đạt dưới 80 phần trăm cũng bị khống chế tăng chỉ tiêu. Đây là thiết kế có sự pha trộn giữa cung và cầu gián tiếp.
Trong Thông tư số 34 năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hạ ngưỡng việc làm xuống 70 phần trăm và loại bỏ hoàn toàn tiêu chí tỷ lệ tuyển sinh thực tế dưới 80 phần trăm. Đồng thời, thông tư siết chặt mạnh mẽ các chỉ số phía cung thông qua việc giảm hệ số quy đổi giảng viên thạc sĩ xuống 0,75 và quy định tính chỉ tiêu theo từng địa điểm đào tạo riêng biệt.
Do đó, tỷ lệ ưu tiên kiểm soát phía cung so với phía cầu đã dịch chuyển từ mức khoảng 80/20 trong Thông tư số 03 lên đến mức khoảng 95/5 trong Thông tư số 34, cho thấy triết lý quản lý quay lại tập trung kiểm soát các điều kiện bảo đảm chất lượng đầu vào của nhà trường.
6. Khoảng trống giai đoạn 2030 đến 2045: Sự lệch pha cấu trúc theo ngành ưu tiên
- Lĩnh vực công nghiệp bán dẫn:
- Để đạt mục tiêu có 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030, hệ thống giáo dục đại học cần tuyển mới và đào tạo khoảng 8.000 đến 10.000 sinh viên mỗi năm ở các ngành liên quan trực tiếp.
- Tuy nhiên, theo công thức tính toán năng lực giảng viên hiện tại của Thông tư số 34, với quy định tỷ lệ tối đa 40 sinh viên trên một giảng viên quy đổi và hệ số thạc sĩ giảm xuống 0,75, tổng quy mô chỉ tiêu được cấp cho các ngành kỹ thuật công nghệ tại các trường đại học trọng điểm bị giới hạn nghiêm trọng.
- Giả định cần kiểm chứng: Năng lực đào tạo tối đa của toàn hệ thống hiện tại đối với nhóm ngành thiết kế vi mạch và bán dẫn chỉ đáp ứng khoảng 30 đến 40 phần trăm nhu cầu chỉ tiêu cần thiết để đạt mục tiêu chiến lược quốc gia do thiếu hụt nghiêm trọng giảng viên có trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực này.
- Lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu:
- Các công nghệ này có chu kỳ thay đổi công nghệ cực kỳ nhanh, thường từ 12 đến 18 tháng là xuất hiện các khung lý thuyết và kỹ năng thực hành mới.
- Trong khi đó, chu kỳ đào tạo đại học kéo dài 4 năm và quy trình điều chỉnh chỉ tiêu cũng như cập nhật chương trình học theo Thông tư số 34 phải dựa trên dữ liệu báo cáo việc làm của khóa cựu sinh viên trước đó tức là có độ trễ lên đến 5 hoặc 6 năm.
- Hệ quả: Sinh viên ngành trí tuệ nhân tạo ra trường vào năm 2030 sẽ được đào tạo theo các tiêu chí năng lực giảng viên và chương trình học được thiết lập từ năm 2024 hoặc 2025, tạo ra sự lệch pha nghiêm trọng về kỹ năng thực tế mà các doanh nghiệp công nghệ yêu cầu.
- Lĩnh vực kinh tế xanh và quản trị môi trường xã hội doanh nghiệp:
- Đây là những lĩnh vực có nhu cầu nhân lực tăng vọt nhưng hiện chưa được định danh rõ ràng trong Danh mục giáo dục đào tạo cấp bốn hiện hành của Việt Nam.
- Do Thông tư số 34 bắt buộc xác định chỉ tiêu theo nhóm ngành hoặc ngành cụ thể đã được đăng ký, các trường đại học không thể chủ động phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh cho các chương trình đào tạo tích hợp mới này nếu không trải qua quy trình xin phép mở ngành cực kỳ phức tạp và kéo dài, làm lỡ nhịp cơ hội đón đầu làn sóng chuyển dịch đầu tư xanh của nền kinh tế.
7. Bộ câu hỏi mở dẫn sang Giai đoạn 3
Để chuẩn bị cho việc xây dựng các khuyến nghị sửa đổi cụ thể trong Giai đoạn 3, nghiên cứu cần làm rõ các câu hỏi sau:
- Cơ chế pháp lý nào cho phép Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam để tự động kiểm chứng dữ liệu việc làm của sinh viên tốt nghiệp mà không vi phạm các quy định về bảo mật thông tin cá nhân?
- Có thể thiết lập một quỹ chỉ tiêu thí điểm quốc gia dành riêng cho các ngành công nghệ cao trọng điểm như bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, nằm ngoài các giới hạn cứng về tỷ lệ giảng viên quy đổi của Thông tư số 34 hay không?
- Làm thế nào để điều chỉnh hệ số giảng viên đồng cơ hữu đối với các chuyên gia giàu kinh nghiệm thực tế từ doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp xanh nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt giảng viên tiến sĩ cơ hữu?
- Kinh nghiệm thực tế của các nước ASEAN trong việc thành lập Hội đồng Kỹ năng Quốc gia độc lập có thể được vận dụng như thế nào tại Việt Nam để làm trọng tài kiểm chứng dữ liệu nhu cầu thị trường lao động?
- Phương án sửa đổi Thông tư số 34 cần thiết lập lộ trình chuyển đổi hệ số giảng viên thạc sĩ trong thời gian bao lâu đối với các trường đại học vùng và trường đại học địa phương để tránh gây sốc cắt giảm chỉ tiêu đột ngột?
Tài liệu tham khảo (References)
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam. (2025). Báo cáo tổng kết công tác thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội năm 2025. Hà Nội: Nhà xuất bản Bảo hiểm Xã hội.
- Chính phủ Việt Nam. (2021). Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. ban hành ngày 21 tháng 6 năm 2021.
- International Labour Organization. (2020). Labour Market Information Systems: A Handbook for Practitioners (Volumes 1-6). Geneva: ILO Publications.
- Tổng cục Thống kê Việt Nam. (2026). Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm năm 2025 và phương hướng năm 2026. Hà Nội: Tổng cục Thống kê (công bố ngày 5 tháng 1 năm 2026).
- United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization. (2021). Scenario Planning in Higher Education: Guidelines for Policy Makers. Paris: UNESCO IIEP.
- World Bank. (2023). Vietnam Education Sector Report: Improving Skills Development for High-Income Transition. Washington, DC: World Bank.